LƯỢC SỬ CỐ HOÀ THƯỢNG THƯỢNG GIÁC HẠ ĐẠO KHAI SƠN CHÙA MINH THÀNH

  • Nguyên Tăng Trưởng Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền Việt Nam Tỉnh Pleiku.
  • Viện Chủ Chùa Minh Quang – Minh Thành – Minh Lâm (TP Pleiku) Chùa Minh Châu (Huyện Mang Yang) Tỉnh Gia Lai.

I/ Thân thế:

Hoà Thượng Thích Giác Đạo, thế danh là Trần Giới, sinh năm 1916 (Bính Thìn) tại thôn An Điền Bắc, xã Cửu An, huyện An Khê, tỉnh Pleiku (nay là tỉnh Gia Lai). Thân phụ là cụ Trần Quý, thân mẫu là cụ bà Đào Thị Lối, gia đình có 10 anh, chị, em. Hoà Thượng là người thứ 4 trong gia đình.

II/ Thời gian xuất gia học đạo:

Được sinh ra trong một gia đình nhân hậu, vốn có túc duyên trong nhiều kiếp gieo trồng căn lành, nên Hoà Thượng sớm nhận thức được chỉ có tình thương mới đem lại an ổn cho kẻ gian nan; chỉ có những liều thuốc hay mới đem lại vui sướng cho người bệnh hoạn. Thế nên Hoà Thượng quyết chí học nghề thuốc Nam tại quê nhà từ thời niên thiếu. Từ đây lòng cứu nhân thôi thúc từng giờ, lòng độ thế ngày càng nung nấu. Hoà Thượng quyết học tinh xảo “Y Phương Minh” để cứu giúp đời. Chẳng bao lâu, nhờ tinh thần quyết tâm cầu học, nên được Y sư truyền trao nhiều kinh nghiệm về phương pháp trị bệnh. Nhờ vậy, nghiệp dĩ Đông Y đã được sớm đơm hoa kết trái. Sau đó, Hoà Thượng theo sự chỉ giáo của Y sư, vân du khắp chốn để gieo rắc tình thương bằng phương thức cứu chữa từ thiện cho mọi tầng lớp bệnh nhân.

Vào một ngày, trên giường bệnh, vẳng nghe xa vọng  tiếng chuông chùa; như thức tỉnh cõi lòng. Hoà Thượng lần theo và đến một ngôi chùa có tên Minh Hoà và đã bái yết đại lão Hoà Thượng cao tăng viện chủ. Rồi từ đó, ngoài những giờ làm thuốc trị bệnh, Hoà Thượng thường tời lui thăm viếng cảnh chùa, nên nhờ đó mà Phật Pháp cũng được thấm nhuần theo ngày tháng. Thế là năm 1942, Hoà Thượng quyết định thu xếp việc gia đình, cầu thầy thế pháp xuất gia tại chùa Minh Hoà- An Khê với đại lão Hoà Thượng Thích Huệ Tấn và được ban pháp danh là Nhựt Định. Năm ấy ngài lên 27 tuổi. Rồi từ đó, đường giải thoát lâng lâng nhẹ bước, chốn thiền môn mõ sớm chuông chiều. Sáu chữ Di Đà chẳng gián, bốn thời khoá tụng nào quên. Một năm sau (1943) Hoà Thượng thọ giới Sa di để tập sự, tiến lên và có pháp tự là Thiện Tường.

Năm 1947, với hạnh nguyện cứu độ sâu dày, oai nghi đỉnh đạt, đáng làm Pháp khí đại thừa, Hoà Thượng được bổn sư cho vào Nam thọ cụ túc giới tại Đại Giới đàn chùa Long Thiền – Biên Hoà – Đồng Nai và có pháp hiệu là Giác Đạo. Chẳng bao lâu Hoà Thượng đã giác ngộ được chân lý tối thượng, rõ nghĩa thâm áo của Đại Thừa. Cho nên, Đạo Bồ tát dốc lòng lập nguyện, hạnh lợi tha chẳng quản chi thân. Oai nghi gìn giữ ân cần, Đoan thân tế hạnh trọn phần nhứt như.

III/ Thời kỳ hành đạo:

Năm 1959, vừa lập hạnh giải thoát vừa bồi đức cứu nhân, Hoà Thượng được tín đồ mến mộ, nên thỉnh Ngài trụ lại một trú xứ để bá tánh tiện việc thỉnh cầu thuốc thang. Thế là Hoà Thượng dựng một am tranh bên một khu đồi với tên gọi là Minh Quang Tự thuộc thôn An Điền Bắc Cửu An – An khê. Kể từ đó danh thầy thuốc ngày càng lan rộng, đức huân tu mỗi lúc vang xa, chúng dân bốn hướng đều nương nhờ, tín đồ khắp nơi đồng quy ngưỡng. Duyên hoá độ lấy lương y làm phương tiện. Cứu cánh thì vẫn Chánh pháp bất nhị môn.

Năm 1963, tình hình xã hội có nhiều biến động, mặc dù sống vùng nông thôn hẻo lánh, nhưng ít nhiều vẫn bị dao động, ảnh hưởng. Nên Hoà Thượng đã lên Cao nguyên hành đạo và kiến tạo một ngôi chùa cũng lấy bảng hiệu là Minh Quang. Xong trước khi thực hiện tâm nguyện này Hoà Thượng đến dự Giới Đàn Quy Nhơn và được suy cử làm đệ nhất tôn chứng tăng già trong Đại Giới đàn Minh Tịnh được tổ chức vào năm 1963 tại Quy Nhơn.

Năm 1963 chùa Minh Quang Pleiku được kiến tạo, tín đồ 10 phương cùng nhau hội tụ về, chẳng bao lâu từ một ngôi chùa nhỏ đơn sơ, đã trở thành ngôi tự viện khang trang và có thêm nhiều đệ tử xuất gia nương học.

Trên đường hoằng pháp lợi sanh, Hoà Thượng đã tiếp tục khai sáng thêm một số cơ sở tự viện Chùa Minh Thành – Pleiku, Chùa Minh Châu – Mang Yang cả hai đều khai sơn vào năm 1970.

Năm 1969 Ban tổ chức Giới Đàn tỉnh Phú Yên đã cung thỉnh Hoà Thượng làm Giáo Thọ A Xà Lê tại Đại Giới Đàn chùa Nghĩa Phú – Phú Yên.

Năm 1972 làm Yết Ma – A Xà Lê tại Đại Giới Đàn Chùa Sùng Đức – Chợ Lớn (nay là thành phố Hồ Chí Minh).

Năm 1969 Hoà Thượng được suy cử làm Phó Tăng Trưởng Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền Việt Nam tỉnh Pleiku.

Năm 1970 Hoà Thượng làm Tăng Trưởng Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền Việt Nam tỉnh Pleiku cho đến 1981.

Năm 1980 Hội đồng Viện Tăng Thống và Hội đồng viện Hoằng Đạo Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền Việt Nam xét công đức tu hành và sự nghiệp hành đạo của Ngài đã tấn phong lên hàng giáo phẩm Hoà Thượng. Năm ấy Hoà Thượng được 65 tuổi.

Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, Hoà Thượng do tuổi già sức yếu nên đã nghỉ dần các mặt hoạt động Phật sự, tập trung chủ yếu vào việc điều chế thuốc Nam để cứu chữa dân nghèo và nuôi dạy chúng đồ. Từ Bắc, Trung, Nam đâu đâu cũng quy về cầu xin điều trị.

Năm 1993 mặc dù tuổi đã ngoài độ “cổ lai hy” Hoà Thượng vẫn tiếp tục kiến tạo thêm một cơ sở mới dành cho ni chúng tu hành có tên Minh Lâm Ni tự.

Trong sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp truyền trì đạo mạch, tục diệm truyền đăng, Hoà Thượng đã nuôi dạy được một số môn đệ đi tham học tại các trường, lớp sơ cấp Phật học, cơ bản Phật học, Cao đẳng Phật học và học viện Phật Giáo Việt Nam tại một số nơi như: Bình Định, Lâm Đồng, Khánh Hoà, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, có vị đã xuất dương du học ở Đài Loan.

  Quả thật: Gương Đạo hạnh xứng danh Thích tử, Đức huân tu đáng bậc Tượng long.

IV/ Thời gian lâm bệnh và viên tịch.

Sau nhiều tháng năm nỗ lực trau dồi đạo nghiệp, tiếp dẫn hậu lai, mặc dù tuổi đã cao, Hoà Thượng vẫn không ngừng xây dựng, phát huy cơ sở hoằng pháp làm tiền đề cho sự phát triển Phật Giáo ở ngày mai. Tuy sự nghiệp chưa thành nhưng đạo tâm đã thành, bổn hoài chưa mãn nhưng cơ duyên đã mãn. Hoà Thường đã hiện thân của một bài giáo lý vô thường sinh động dạy lại cho hậu côn.

Thế là cuối tháng 6 năm Kỷ Mão (1999) Hoà Thượng lâm bệnh, sau đó Hoà Thượng đã theo định luật vô thường muôn thuở, xả báo an tường vào lúc 14h, 20’ngày 26/8/1999 (nhằm ngày 16/7/Kỷ Mão). Trụ thế 85 năm, trải qua 52 mùa an cư kiết hạ.

Menu